phim set cap 3 comGiáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2.pdf (Tài chính doanh nghiệp 2) | Tải miễn phí

phimsetcap3comGiáotrìnhTàichínhdoanhnghiệp2:Phần2.pdf(Tàichínhdoa

Giáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2

pdf

Số trang Giáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2
73
Cỡ tệp Giáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2
2 MB
Lượt tải Giáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2
0
Lượt đọc Giáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2
30
Đánh giá Giáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2

4.8 (
10 lượt)

Bạn đang đọc: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp 2: Phần 2.pdf (Tài chính doanh nghiệp 2) | Tải miễn phí

732 MB

Xem thêm: Bộ Hồ sơ đến kỳ Quyết toán Thuế, Báo cáo tài chính cần chuẩn bị – Dịch vụ kế toán thuế chuyên nghiệp

Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu

Đang xem trước 10 trên tổng 73 trang, để tải xuống xem không thiếu hãy nhấn vào bên trên

Xem thêm: Kế toán công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Chủ đề tương quan

Tài liệu tương tựNội dung

Chương 5
ĐẦU TƯ DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP

Mục tiêu: Sau khi đọc xong chương này sinh viên sẽ
– Hiểu rõ đặc điểm của các loại dự án đầu tư
– Biết cách ước lượng dòng ngân quỹ của dự án đầu tư
– Nắm vững kỹ thuật đánh giá dự án đầu tư
– Hiểu được các vấn đề rủi ro trong dự án đầu tư và cách thức đo lường rủi ro dự án.

5.1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP
5.1.1. Khái niệm về đầu tư dài hạn
Đầu tư dài hạn là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của
một doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế quốc dân. Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực
hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai. Tuy nhiên, trong
phạm vi xem xét khác nhau, khái niệm về đầu tư cũng có những điểm khác nhau.
Về mặt kinh tế: Đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng trong tương lai có
được thu nhập cao hơn.
Đầu tư dài hạn là quá trình hoạt động sử dụng vốn để hình thành nên những tài sản cần
thiết nhằm phục vụ cho mục đích thu lợi nhuận trong khoảng thời gian dài trong tương lai.
Theo khái niệm ở trên, đầu tư dài hạn của doanh nghiệp chính là hoạt động bỏ vốn
để mua sắm, xây dựng hình thành các tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình,
hình thành lượng tài sản lưu động thường xuyên cần thiết phù hợp với quy mô kinh doanh
nhất định hoặc để góp vốn liên doanh dài hạn, để mua cổ phiếu, trái phiếu của đơn vị khác
nhằm thu lợi nhuận.
Như vậy đầu tư dài hạn của một doanh nghiệp không phải chỉ là đầu tư vào tài sản
cố định mà nó còn bao hàm cả việc đầu tư cho nhu cầu tương đối ổn định về vốn lưu động
thường xuyên cần thiết tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định của doanh nghiệp,
đầu tư có tính chất dài hạn vào các hoạt động khác để thu lợi nhuận.
Đầu tư dài hạn của một doanh nghiệp có đặc điểm là phải ứng ra một lượng vốn
tiền tệ ban đầu tương đối lớn và được sử dụng có tính chất dài hạn trong tương lai, do đó
đầu tư dài hạn luôn gắn liền với rủi ro. Các quyết định đầu tư của doanh nghiệp mặc dù
đều dựa trên cơ sở dự tính về thu nhập trong tương lai do đầu tư đưa lại, tuy nhiên khả
năng nhận được thu nhập trong tương lai thường không chắc chắn nên rủi ro trong đầu tư
là rất lớn. Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro đầu tư càng cao và ngược lại.

5.1.2. Các loại đầu tư dài hạn
Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả đầu tư, cần phải phân loại hoạt động đầu tư. Có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp
theo các cách sau:

a. Theo cơ cấu vốn đầu tư
Căn cứ vào cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp có thể chia đầu tư của doanh
nghiệp thành các loại:
– Đầu tư xây dựng cơ bản
Đây là khoản đầu tư nhằm tạo ra tài sản cố định của doanh nghiệp và thông thường
doanh nghiệp phải sử dụng một khoản vốn lớn để thực hiện đầu tư vào tài sản cố định

73

thông qua việc mua sắm và xây dựng. Trong đầu tư xây dựng cơ bản lại có thể thực hiện
phân loại chi tiết dựa theo tiêu thức nhất định:
* Theo tính chất công tác có thể phân chia đầu tư xây dựng cơ bản của doanh
nghiệp thành: Đầu tư cho công tác xây lắp; đầu tư cho máy móc thiết bị, đầu tư
cho XDCB khác.
+ Đầu tư cho xây lắp bao gồm đầu tư cho việc lắp ráp các kết cấu kiến trúc, lắp đặt
máy móc, thiết bị sản xuất trên nền bệ cố định.
+ Đầu tư cho thiết bị. Là đầu tư về mua sắm máy móc, thiết bị cần thiết của doanh
nghiệp bao gồm chi phí mua thiết bị theo giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản thiết bị.
+ Đầu tư xây dựng cơ bản khác: Bao gồm đầu tư cho việc khảo sát, thiết kế xây
dựng, chi phí dùng đất xây dựng, đền bù đất đai, hoa màu, tài sản, chi phí di chuyển nhà
cửa trên đất đai xây dựng, cũng như chi phí mua bản quyền phát minh sáng chế, chi phí
công nghệ, mua nhãn hiệu hàng hóa.v.v.
* Theo hình thái vật chất của kết quả đầu tư có thể chia đầu tư xây dựng cơ bản của doanh
nghiệp thành hai loại sau:
+ Đầu tư về tài sản cố định hữu hình (có hình thái vật chất), bao gồm toàn bộ việc
xây dựng, mua sắm các tài sản như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị… Việc đầu tư các loại
tài sản này cần phải được xem xét gắn liền với sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật.
+ Đầu tư về tài sản cố định vô hình như: Đầu tư mua bằng phát minh sáng chế, bản
quyền, quy trình công nghệ sản xuất mới.v.v…
– Đầu tư về vốn lưu động thường xuyên cần thiết
Đây là khoản đầu tư để hình thành nêm tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần
thiết (nguyên liệu, vật liêu, nhiên liệu) đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, tiến hành hoạt động bình thường. Tùy thuộc vào mô hình tổ chức nguồn vốn
mà có thể đầu tư một phần hoặc toàn bộ tài sản thường xuyên cần thiết tương ứng với một
quy mô kinh doanh nhất định.
– Đầu tư góp vốn liên doanh dài hạn và đầu tư vào tài sản tài chính
Đây là các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp. Trong hoạt động sản suất kinh
doanh của các doanh nghiệp có nhiều hình thức liên doanh liên kết. Trong đó có hình thức
liên doanh dài hạn, các doanh nghiệp tham gia góp vốn kinh doanh trong thời gian tương
đối dài, chịu trách nhiệm chung và phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng
góp. Liên doanh này có thể thực hiện trong khuôn khổ một doanh nghiệp đã có sẵn, các tổ
chức, doanh nghiệp khác góp vốn vào liên doanh với doanh nghiệp đó hoặc cũng có thể
thực hiện liên doanh bằng cách góp vốn để lập nên một đơn vị kinh tế mới. Ngoài việc
tham gia liên doanh trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các doanh
nghiệp ở các thành phần kinh tế khác có thể tham gia đầu tư vốn dài hạn vào các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế khác dưới hình thức mua cổ phần, mua trái phiếu dài hạn của
doanh nghiệp khác phát hành… Doanh nghiệp sẽ nhận được khoản thu nhập từ các cổ
phiếu, trái phiếu đã mua.
Như vậy, các cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán dài hạn khác mà doanh
nghiệp đã mua với ý định nắm giữ trong một thời gian tương đối dài (trên một năm), là một
loại tài sản của doanh nghiệp và được gọi là tài sản tài chính của doanh nghiệp.
Việc phân loại đầu tư theo cơ cấu vốn giúp cho doanh nghiệp có thể xem xét tính
chất hợp lý của các khoản đầu tư trong tổng thể đầu tư của doanh nghiệp để đảm bảo xây
dựng được cơ cấu vốn đầu tư thích ứng với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp nhằm
đạt hiệu quả đầu tư cao.

74

b. Theo mục tiêu đầu tư
Căn cứ vào mục tiêu đầu tư cụ thể của doanh nghiệp có thể chia đầu tư của doanh
nghiệp thành các loại sau:
– Đầu tư hình thành doanh nghiệp: Bao gồm các khoản đầu tư ban đầu để thành lập
doanh nghiệp.
– Đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh: Là toàn bộ các khoản đầu tư nhằm mở rộng
thêm các phân xưởng mới hay các đơn vị trực thuộc.
– Đầu tư chế tạo sản phẩm mới: Là khoản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản
phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.
– Đầu tư thay thế, hiện đại hóa máy móc: Là khoản đầu tư thay thế hoặc đổi mới các
trang thiết bị cho phù hợp với tiến độ khoa học kỹ thuật, nhằm duy trì hoặc tăng khả năng
sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
– Đầu tư ra bên ngoài: Là sự đầu tư góp vốn thực hiện liên doanh dài hạn với các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, đầu tư về tài sản tài chính khác…
Việc phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát được tình hình thực
hiện đầu tư theo những mục tiêu nhất định mà doanh nghiệp đặt ra trong một thời kỳ và có
thể tập trung vốn và biện pháp thích ứng để đạt được mục tiêu đề ra.
Ngoài các cách phân loại ở trên, căn cứ vào phạm vi đầu tư người ta có thể phân
chia đầu tư của doanh nghiệp thành đầu tư vào bên trong doanh nghiệp và đầu tư ra bên
ngoài doanh nghiệp. Căn cứ vào quy mô đầu tư có thể phân chia thành dự án đầu tư có quy
mô lớn, dự án đầu tư có quy mô vừa và nhỏ.

5.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư dài hạn
Quyết định đầu tư dài hạn là quyết định có tính chiến lược của một doanh nghiệp,
nó quyết định đến tương lai của một doanh nghiệp. Bởi lẽ, mỗi quyết định đầu tư đều ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp trong một thời gian dài, nó chi phối kinh
doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến sản
phẩm sản xuất, tiêu thụ trong tương lai của doanh nghiệp.
Về mặt tài chính, quyết định đầu tư là quyết định tài chính dài hạn, các quyết định
đầu tư đòi hỏi phải sử dụng một lượng vốn lớn để thực hiện đầu tư. Vì thế hiệu quả kinh
doanh trong tương lai của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư. Nếu
quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu
thụ, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp trong tương lại. Ngược lại, quyết
định đầu tư sai sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Nếu đầu tư quá nhều, không đúng hướng,
hoặc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn rất lớn, làm giảm hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp. Nếu không nắm sát nhu cầu của thị trường đầu tư vốn quá ít
sẽ làm doanh nghiệp không đủ vốn sản xuất đáp ứng kịp thời các đơn đặt hàng từ đó có thể
mất thị trường do không đủ sản phẩm để bán. Một vấn đề khác là, nếu doanh nghiệp không
có quyết định đầu tư kịp thời đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ sản xuất trong điều
kiện cạnh tranh doanh nghiệp có thể bị thua lỗ phá sản.
Như vậy thành bại của doanh nghiệp trong tương lai tùy thuộc rất lớn vào các
quyết định đầu tư ngày hôm nay. Chính vì thế, để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi
doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng nhiều vấn đề, xem xét nhiều yếu tố tác động đến
việc đầu tư của doanh nghiệp, trong đó có những yếu tố có tính chất quyết định, gồm
các yếu tố chủ yếu sau đây:

75

– Chính sách kinh tế của Nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế: Nhà nước là
người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của các DN trong các thành phần kinh
tế. Thông qua chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế … Nhà nước
tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng
dẫn các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế hoạch vĩ mô. Chính
sách kinh tế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong định
hướng đầu tư phát triển kinh doanh, với các đòn bẩy kinh tế, Nhà nước khuyến khích các
doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh vào những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân
sinh. Bởi thế để đi đến quyết định đầu tư, trước tiên các doanh nghiệp cần phải xem xét đến
chính sách kinh tế của Nhà nước như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế …
– Thị trường và sự cạnh tranh: Trong sản xuất hàng hóa, thị trường tiêu thụ hàng hóa
là một căn cứ hết sức quan trọng để doanh nghiệp quyết định đầu tư. Vấn đề đặt ra cho
doanh nghiệp là phải đầu tư để sản xuất những loại sản phẩm mà người tiêu dùng cần, tức
là phải căn cứ vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường hiện tại và tương lai để xem xét vấn đề
đầu tư. Việc phân tích thị trường xác định mức cầu về sản phẩm để quyết định đầu tư đòi
hỏi phải được xem xét hết sức khoa học và bằng sự nhạy cảm trong kinh doanh để đi đến
quyết định đầu tư. Trong đầu tư, khi xem xét thị trường thì không thể bỏ qua yếu tố cạnh
tranh. Yếu này đòi hỏi doanh nghiệp trong đầu tư phải căn cứ vào tình hình hiện tại của
doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nhiệp trên thị trường và dự đoán tình
hình trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư thích hợp, tạo ra lợi thế riêng của
doanh nghiệp trên thị trường.
– Lãi suất và thuế trong kinh doanh: Đây là yếu tố ảnh hưởng tới chi phí đầu tư của
doanh nghiệp. Thông thường để thực hiện đầu tư ngoài vốn tự có doanh nghiệp phải vay và
đương nhiên phải trả khoản tiền lãi vay đầu tư, doanh nghiệp phải tăng thêm khoản chi phí
cho mỗi đồng vốn đầu tư. Vì vậy, doanh nghiệp không thể không tính đến yếu tố lãi suất
tiền vay trong quyết định đầu tư. Thuế là công cụ rất quan trọng của Nhà nước để điều tiết
và hướng dẫn các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh. Đối với doanh nghiệp, thuế trong kinh
doanh thấp hay cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu tiêu thụ và lợi nhuận ròng của
doanh nghiệp. Do vậy, thuế trong kinh doanh là yếu tố kích thích hay hạn chế sự đầu tư
của doanh nghiệp.
– Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ: Nó có thể là cơ hội hoặc cũng có thể là nguy
cơ đe dọa đố với sự đầu tư của một doanh nghiệp. Trong đầu tư, doanh nghiệp phải tính
đến thành tựu của khoa học, công nghệ để xác đinh đầu tư về trang thiết bị, đầu tư về quy
trình công nghệ sản xuất hoặc đầu tư kịp thời về đổi mới, hiện đại hóa trang thiết bị, nâng
cao chất lượng, đổi mới sản phẩm. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ cũng đòi hỏi doanh
nghiệp dám chấp nhận những mạo hiểm trong đầu tư để phát triển sản phẩm mới. Ngược
lại, doanh nghiệp nếu không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ đổi
mới trang thiết bị, đổi mới sản phẩm có nguy cơ dẫn doanh nghiệp tới tình trạng làm ăn
thua lỗ do sản phẩm không phù hợp với nhu cầu của thị trường.
– Mức độ rủi ro của đầu tư: Trong sản xuất hàng hóa với cơ chế thị trường, mỗi
quyết định đầu tư đều có thể gắn liền với sự rủi ro nhất định do sự biến động trong tương
lai về sản xuất và về thị trường .v.v. Do vậy cần đánh giá, định lượng mức độ rủi ro và tỷ
suất sinh lời của khoản đầu tư, xem xét tỷ suất sinh lời có tương xứng với mức độ rủi ro
hay không để từ đó xem xét quyết định đầu tư.
– Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Để đi đến quyết định đầu tư, doanh nghiệp
không thể không tính đến khả năng tài chính để thực hiện đầu tư. Mỗi doanh nghiệp chỉ có
nguồn tài chính để đầu tư ở giới hạn nhất định bao gồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn có
khả năng huy động. Doanh nghiệp không thể quyết định đầu tư để thực hiện các dự án vượt
xa khả năng tài chính của mình, Đây là một yếu tố nội tại chi phối đến việc quyết định đầu
tư của một doanh nghiệp.

76

Trên đây là các yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định đến kế hoạch đầu tư của
doanh nghiệp. Hay nói khác đi, trong việc đầu tư của doanh nghiệp có một loạt các lực tác
động khác nhau mà doanh nghiệp phải tính đến trước khi đi đến quyết định đầu tư.

5.1.4. Trình tự ra quyết định đầu tư dài hạn
Quyết định đầu tư cũng là một quyết định tài chính dài hạn của doanh nghiệp, nó
ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của doanh nghiệp. Thông thường để đi đến quyết định đầu
tư cần thực hiện các bước cần thiết sau đây:
– Phân tích tình hình, xác định cơ hội đầu tư hay định hướng đầu tư. Đây là vấn đề
hết sức quan trọng để đi đến quyết định đầu tư. Trước hết cần đánh giá đúng đắn tình hình
bên ngoài và dự đoán tình hình đó trong tương lai. Cần thu nhập thông tin và phân tích,
đánh giá tình hình hiện tại về các mặt thị trường, cạnh tranh, sự tiến bộ của mặt kỹ thuật và
công nghệ sản xuất,… và những khả năng thay đổi trong tương lai. Việc phân tích và đánh giá
tình hình bên ngoài là vấn đề rất phức tạp và vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp, bởi khi
có đánh giá và dự đoán đúng mới giúp doanh nghiệp xác định hướng đầu tư thích ứng với sự
thay đổi của tình hình. Nếu dự đoán sai tình hình có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho
doanh nghiệp trong tương lai. Tiếp theo cần phân tích đánh giá đúng tình hình hiện tại của
doanh nghiệp về năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tình hình tài chính… đối chiếu với tình
hình bên ngoài. Rút ra những mặt mạnh, mặt còn hạn chế trong sản xuất kinh doanh và khả
năng tài chính để xác định hướng đầu tư thích hợp.
– Xác định mục tiêu đầu tư: Mỗi quyết định đầu tư của doanh nghiệp đều phải xác
định rõ mục tiêu cần đạt được về sản xuất và về tài chính. Mục tiêu mang tính dài hạn.
– Lập dự án đầu tư; sau khi xác định mục tiêu đầu tư và xem xét tình hình kinh
doanh hiện tại cũng như tương lai cần phải tiến hành lập các dự án để giải quyết nhiệm vụ
kinh tế được đặt ra cho việc đầu tư. Đây là công việc rất phức tạp, phải giải quyết một loạt
các vấn đề kỹ thuật, kinh tế và tài chính. Trong mỗi dự án đầu tư phải trình bày rõ luận
chứng kinh tế – kỹ thuật của việc đầu tư và dự toán để thực hiện việc đầu tư. Vì vậy việc
lập dự toán đầu tư là quá trình phối hợp hoạt động của các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật,
kinh tế, tài chính,… ở doanh nghiệp.
– Đánh giá thẩm định dự án đầu tư và lựa chọn dự án đầu tư. Sau khi dự án được lập sẽ
tiến hành việc đánh giá, thẩm định dự án. Đây là quá trình kiểm tra, xem xét một cách khách
quan, khoa học và toàn diện nội dung cơ bản của dự án nhằm đánh giá tính hợp lý, tính hiệu
qủa và tính khả thi của dự án để có thể có sự lựa chọn thích ứng. Việc đánh giá, thẩm định và
lựa chọn dự án cũng là một vấn đề phức tạp sẽ xem xét kỹ ở phần sau.
– Ra quyết định đầu tư: chọn một dự án đầu tư tối ưu cần tiếp tục xem xét thêm khả
năng thực hiện cuối cùng đi đến việc ra quyết định đầu tư.
Trên đây là những công việc cần thiết để đi đến một quyết định đầu tư có tính chất
chiến lược của doanh nghiệp.

5.2. XÁC ĐỊNH DÒNG TIỀN CỦA DỰ ÁN
5.2.1. Các nguyên tắc cơ bản xác định dòng tiền của dự án đầu tư.
Xem xét trên góc độ tài chính thì đầu tư là bỏ tiền chi ra ngày hôm nay để hi vọng
thu về những khoản tiền thu nhập lớn hơn trong tương lai. Do vậy, đầu tư là quá trình phát
sinh các dòng tiền gồm dòng tiền ra và dòng tiền vào của dự án.
Dòng tiền ra: là những khoản tiền mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện dự án đầu tư.
Dòng tiền vào: là những khoản tiền thu nhập do dự án đầu tư mang lại.
Việc xác định dòng tiền của dự án đầu tư là một vấn đề khó khăn và phức tạp, liên
quan đến nhiều nhân tố hay biến số khác nhau nhất là việc xác định dòng tiền vào.

77

Những sai lầm trong việc xác định dòng tiền dẫn đến những kết luận sai về việc chấp
thuận hay loại bỏ dự án đầu tư. Vì vậy, khi xác định dòng tiền của dự án đầu tư phải
dựa trên những nguyên tắc sau:
+ Đánh giá dự án cần dựa trên cơ sở đánh giá dòng tiền tăng thêm do dự án đầu tư
đưa lại chứ không dựa vào lợi nhuận kế toán. Dòng tiền mặt cho phép các nhà đầu tư biết
được lượng tiền có ở từng thời điểm mà doanh nghiệp được phép sử dụng để có những
quyết định mới; hoặc dùng tiền đó để trả nợ, hoặc trả lợi tức cho cổ đông, hoặc tăng vốn
luân chuyển hoặc đầu tư tài sản cố định… Trong khi đó nếu sử dụng lợi nhuận kế toán
một mặt phụ thuộc vào phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp, mặt khác doanh
thu để tính lợi nhuận kế toán bao gồm cả phần doanh thu bán chịu, làm cho doanh nghiệp
có thể có lợi nhuận nhưng lại không có tiền.
+ Phải tính đến chi phí cơ hội khi xem xét dòng tiền của dự án. Chi phí cơ hội là
khoản thu nhập mà nhà đầu tư có thể thu được từ dự án tốt nhất còn lại. Chi phí cơ phí cơ
hội ở đây muốn nói đến chính là phần thu nhập cao nhất có thể có được từ tài sản hữu hình
của doanh nghiệp nếu nó không sử dụng cho dự án. Chi phí cơ hội không phải là một
khoản thực chi nhưng vẫn được tính vào vì đó là một khoản thu nhập mà doanh nghiệp
phải mất đi khi thực hiện dự án. Ví dụ: Một doanh nghiệp có thể cho thuê mặt bằng nhà
máy với giá 1.200trđ/ năm từ việc cho thuê mặt bằng phải được xem là chi phí cơ hội của
dự án sản xuất sản phẩm mới.
+ Không được tính chi phí chìm vào dòng tiền của dự án. Chi phí chìm là những
khoản chi phí của những dự án đầu tư quá khứ (những chi phí đã xảy ra rồi) không còn
khả năng thu hồi mà doanh nghiệp phải hoàn toàn gánh chịu bất kể dự án có được chấp
thuận hay không. Chúng không liên quan đến dự án đầu tư mới nên không được đưa
vào để phân tích.
+ Phải tính đến yếu tố lạm phát khi xem xét dòng tiền. Lạm phát có ảnh hưởng rất
lớn đến dòng tiền thu vào và dòng tiền chi ra của dự án, đồng thời ảnh hưởng đến chi phí
cơ hội của vốn. Lạm phát cao có thể làm cho thu nhập mang lại từ dự án trong tương lai
không đủ bù đắp cho khoản đầu tư hôm nay. Do đó, nếu có lạm phát thì phải tính đến ảnh
hưởng của lạm phát đến dòng tiền và tỷ lệ chiết khấu dòng tiền khi đánh giá dự án.
+ Ảnh hưởng chéo: phải tính đến ảnh hưởng của dự án đến các bộ phận khác của doanh nghiệp

5.2.2. Xác định dòng tiền của dự án đầu tư
a. Xác định dòng tiền ra của dự án
Những khoản chi tiêu liên quan đến việc bỏ vốn thực hiện đầu tư tạo thành dòng tiền
ra của đầu tư, vốn đầu tư có thể bỏ rải rác trong nhiều năm, cũng có thể bỏ ra ngay một lần
(theo phương thức chìa khóa trao tay). Tùy theo tính chất của khoản đầu tư có thể xác định
được khoản chi cụ thể của dự án. Thông thường đối với những dự án đầu tư điển hình (là
những dự án tạo ra sản phẩm, dịch vụ) thì nội dung dòng tiền ra của dự án đầu tư bao gồm:
– Những khoản chi để hình thành nên TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, những khoản
chi liên quan đến hiện đại hoá để nâng cấp máy móc thiết bị khi dự án đi vào hoạt động.
– Vốn đầu tư để hình thành vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho dự án khi dự
án đi vào hoạt động bao gồm: Số vốn đầu tư vào TSLĐ thường xuyên cần thiết ban đầu
đưa dự án vào hoạt động và số vốn lưu động thường xuyên cần thiết bổ xung thêm trong
quá trình hoạt động của dự án khi có sự tăng về quy mô kinh doanh.
Thông thường, để xác định dòng tiền chi về vốn lưu động, đặc biệt với vốn lưu
động bổ sung người ta đưa ra quy tắc; khi có nhu cầu vốn lưu động tăng thêm ở năm nay
thì việc chi bổ sung vốn lưu động được thực hiện ở cuối năm trước.

78

b. Xác định dòng tiền vào của dự án
Mỗi dự án đầu tư sẽ đem lại khoản tiền thu nhập ở một hay một số thời điểm
khác nhau trong tương lai tạo thành dòng tiền vào của dự án. Việc xác định dòng tiền
vào của dự án đầu tư là vấn đề hết sức phức tạp, phải căn cứ vào tính chất của khoản
đầu tư để định lượng các khoản thu nhập do đầu tư tạo ra một cách thích hợp. Dòng
tiền vào của dự án bao gồm:
(1) Dòng tiền thuần hoạt động hàng năm: Là khoản tiền chênh lệch giữa số tiền chênh
lệch (dòng tiền vào) và số tiền chi ra (dòng tiền ra) phát sinh từ hoạt động thường xuyên
hàng năm khi dự án đi vào hoạt động. Đối với một dự án đầu tư trong kinh doanh tạo ra
doanh thu bán hàng hóa dịch vụ thì dòng tiền từ hoạt động hàng năm của dự án được xác
định trực tiếp bằng chênh lệch giữa dòng tiền vào so bán sản phẩm, hàng hóa với dòng tiền
ra do mua vật tư và chi phí khác bằng tiền liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa và tiền thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp.
Hoặc có thể tính gián tiếp như sau:
Dòng tiền thuần hoạt động
hàng năm

=

Lợi nhuận sau thuế
hàng năm

+

Khấu hao TSCĐ
hàng năm

(2) Số tiền thuần từ thanh lý tài sản khi kết thúc dự án: Là số tiền còn lại từ thu nhập thanh
lý tài sản sau khi đã nộp thuế thu nhập về thanh lý tài sản (nếu có).
Thu nhập từ
thanh lý tài sản

=

Số tiền thu được do nhượng
bán, thanh lý TS

Chi phí liên quan đến việc
nhượng bán, thanh lý TS

Một số dự án đầu tư khi kết thúc DAĐT có thể thu được một số tiền từ việc nhượng bán,
thanh lý đầu tư. Việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định có thể sảy ra ba trường hợp sau:
+ Khoản thu nhập từ nhượng bán tài sản lớn hơn giá trị còn lại của TSCĐ, trường
hợp này không có lãi hoặc lỗ vốn từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản. Do đó, không phải
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp từ khoản nhượng bán, thanh lý tài sản.
+ Khoản thu nhập từ nhượng bán, thanh lý tài sản lớn hơn giá trị còn lại của
TSCĐ, trường hợp này có lãi từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản và phải nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp.
+ Khoản thu nhập từ nhượng bán tài sản nhỏ hơn giá trị còn lại của TSCĐ, trường
hợp này doanh nghiệp bị lỗ vốn do nhượng bán, thanh lý tài sản, khoản lỗ này xét về
nguyên lý sẽ làm giảm thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp.
(3) Thu hồi vốn lưu động thường xuyên đã ứng ra.
Khi dự án đưa vào hoạt động, doanh nghiệp đã đầu tư vốn lưu động thường xuyên
cần thiết (đầu tư ban đầu khi dự án bắt đầu hoạt động và đầu tư bổ sung thêm trong quá
trình hoạt động). Toàn bộ số vốn lưu động đã ứng ra sẽ được thu hồi lại đầy đủ theo
nguyên tắc số vốn lưu động đã được ứng ra bao nhiêu phải thu hồi hết bấy nhiêu. Thời
điểm thu hồi có thể thu hồi dần hoặc thu hồi toàn bộ một lần khi kết thúc dự án.
– Xác định dòng tiền thuần hàng năm của đầu tư và dòng tiền thuần của dự án.
+ Dòng tiền thuần hàng năm của đầu tư: Được xác định là số chênh lệch của dòng
tiền thu vào và dòng tiền chi ra phát sinh hàng năm do đầu tư đưa lại.
+ Dòng tiền thuần của dự án đầu tư: Là dòng tiền tăng thêm do dự án đầu tư đưa lại,
góp phần làm tăng thêm dòng tiền và là cơ sở để gia tăng giá trị của doanh nghiệp so với
trước khi có dự án. Dòng tiền thuần của dự án đầu tư có thể được xác định bằng cách lấy
tổng giá trị dòng tiền ra của dự án.

79

Để thuận tiện cho việc hoạch định dòng tiền của đầu tư, thông thường người ta sử
dụng quy ước sau:
+ Số vốn đầu tư ban đầu được quy ước phát sinh ra ở thời điểm t = 0.
+ Dòng tiền vào hoặc dòng tiền ra của dự án có thể phát sinh ra ở các thời điểm khác
nhau trong một năm đều được quy về thời điểm cuối năm để tính toán.

5.2.3. Ảnh hưởng của khấu hao đến dòng tiền của DADT
Về mặt lý thuyết có ba phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp có thể áp dụng:
phương pháp khấo hao đường thẳng, phương pháp khấu hao nhanh và phương pháp khấu
hao theo sản lượng.
Khấu hao là khoản chi phí được tính vào chi phí hoạt động hàng năm của doanh
nghiệp và được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế. Vì vậy, nếu thay đổi phương pháp khấu
hao tính thuế sẽ ảnh hưởng gián tiếp rất lớn đến dòng tiền sau thuế của dự án đầu tư …
CFht = CFKt (1 – t%) + KTt. t%
Trong đó
CFht: Dòng tiền thuần của dự án hoạt động năm t
CFKt: Dòng tiền trước thuế chưa kể khấu hao năm ở năm t.
KHt: Mức khấu hao TSCĐ năm t
t%: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
KHt. t%: Mức tiết kiệm thuế do khấu hao ở năm t
Dòng tiền thuần trước thuế chưa kể
=
khấu hao( CFKt)

Doanh thu
thuần

Chi phí hoạt động bằng tiền
(không kể khấu hao)

Từ công thức trên cho thấy, phần chi phí khấu hao càng cao thì dòng tiền thuần
hàng năm của dự án sẽ càng cao. Như vậy nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu
hao nhanh thì trong những năm đầu sử dụng tài sản, do khấu hao cao dòng tiền mặt thu về
hàng năm sẽ cao, và càng những năm cuối của thời gian sử dụng tài sản cố định nếu các
yếu tố khác không có gì thay đổi thì dòng tiền thuần hàng năm của doanh nghiệp sẽ càng
giảm đi.

5.3. ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ
5.3.1. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự án đầu tư dài hạn
Để đi đến quyết định đầu tư, vấn đề quan trọng là phải đánh giá được hiệu quả của
đầu tư. Hiệu quả của đầu tư được biểu thị bằng mối hệ giữa lợi ích thu được do đầu tư mang
lại và chi phí bỏ ra để thực hiện đầu tư. Khi xem xét một dự án đầu tư phải xem xét vấn đề
cơ bản là những lợi ích trong tương lai thu được có tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ ra hay
không? Để đánh giá được lợi ích của đầu tư phải xuất phát từ mục tiêu đầu tư.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh thì mục đích hàng đầu trong hoạt động kinh
doanh là lợi nhuận. Doanh nghiệp không thể tồn tại nếu quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp luôn luôn ở tình trạng bị thua lỗ. Vì thế, việc đầu tư của doanh nghiệp là nhằm khai
thác tốt nhất mọi tiềm năng và lợi thế của doanh nghiệp hướng tới hiệu quả cuối cùng là lợi
nhuận. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng không phải tất cả các khoản đầu tư của doanh nghiệp
đều nhằm mục đích trực tiếp là lợi nhuận, chẳng hạn các khoản đầu tư để cải thiện điều
kiện làm việc, đầu tư cho việc bảo vệ môi trường… Ở đây chúng ta chủ yếu xem xét các
khoản dự án đầu tư dưới góc độ doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận.

80

Mỗi khoản đầu tư của doanh nghiệp có thể có nhiều dự án khác nhau. Trong mỗi
dự án đầu tư mang nhiều nội dung thuộc về vấn đề kỹ thuật, kinh tế, tài chính … Về
phương diện tài chính, trong mỗi dự án đầu tư cần phải xác định: Dự toán về vốn để thực
hiện dự án đầu tư, số lợi nhuận khi thực hiện đầu tư đưa lại. Trên cơ sở đó mà lựa chọn dự
án đầu tư tối ưu nhất.
Để lựa chọn dự án đầu tư cần phải cân nhắc xem xét nhiều mặt, trong đó về mặt tài
chính, chủ yếu là xem xét hiệu quả của kinh tế của dự án đầu tư. Có nhiều tiêu chuẩn khác
nhau được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án. Các chỉ tiêu được sử dụng phải
nhằm đánh giá mức tiềm năng lợi nhuận của một dự án đầu tư. Trên góc độ tài chính, các
tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư thường được sử dụng là:
– Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
– Thời gian hoàn vốn đầu tư
– Giá trị hiện tại thuần của dự án đầu tư
– Tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án đầu tư
– Chỉ số sinh lời của dự án đầu tư
Trong việc lựa chọn dự án đầu tư không nhất thiết phải sử dụng tất cả các chỉ tiêu
trên vào việc so sánh các dự án. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà xác định chỉ tiêu chủ
yếu làm căn cứ lựa chọn dự án. Điểm cơ bản là căn cứ yêu cầu kinh doanh của doanh
nghiệp đặt ra hay nói cách khác là tùy vào quyết định chính sách kinh doanh của doanh
nghiệp. Chẳng hạn doanh nghiệp đề ra là phải sản kinh doanh có lãi nhưng phải thu hồi
vốn nhanh để đầu tư đổi mới trang thiết bị, trong trường hợp này chỉ tiêu chủ yếu để lựa
chọn dự án là chỉ tiêu thời gian hoàn vốn đầu tư.

5.3.2. Các phương pháp chủ yếu đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư
Để đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trước hết cần phải tiến hành phân loại các dự
án. Căn cứ vào mối quan hệ giữa các dự án, có thể phân chia các dự án đầu tư thành hai
loại: Loại dự án đầu tư độc lập và loại dự án đầu tư loại trừ nhau.
+ Dự án đầu tư độc lập là dự án mà khi được chấp thuận hay bị loại bỏ không ảnh
hưởng gì đến các dự án khác.
+ Dự án loại trừ nhau hay dự án xung khắc là loại dự án mà khi một dự án này được
thực hiện thì các dự án khác còn lại sẽ bị loại bỏ. Ví dụ một công ty vận tải biển cần một
tàu chở hàng đang xem xét hai khả năng là nên mua hay thuê chiếc tàu đó. Đây là hai dự án
loại trừ nhau.
Việc quyết định cuối cùng lựa chọn dự án đầu tư là thuộc trách nhiệm và thẩm
quyền cuả những người lãnh đạo doanh nghiệp. Để giúp chi việc ra quyết định đúng đắn,
bộ phận tài chính của doanh nghiệp có nhiệm vụ tham gia ý kiến tham mưu với lãnh đạo
doanh nghiệp. Vì thế bộ phận tài chính doanh nghiệp cần nắm được những phương pháp
nhất định về lựa chọn dự án đầu tư. Có nhiều phương pháp lựa chọn dự án đầu tư, trên góc
độ tài chính để xem xét người ta thường sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
– Phương pháp thời gian hoàn vốn đầu tư (PP)
– Phương pháp giá trị hiện tại thuần (NPV)
– Phương pháp tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR)

a. Phương pháp thời gian hoàn vốn đầu tư (PP)
Phương pháp này chủ yếu dựa vào chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư để lựa chọn
dự án.
Thời gian hoàn vốn đầu tư (thời gian thu hồi vốn đầu tư) là khoảng thời gian cần
thiết mà dự án tạo ra dòng tiền thuần bằng chính số vốn đầu tư ban đầu để thực hiện dự án.

81

Theo phương pháp này thời gian hoàn vốn của dự án càng ngắn DAĐT càng hấp dẫn.
Để xác định được thời gian thu hồi vốn đầu tư của dự án có thể chia ra làm hai
trường hợp:
Trường hợp 1: Nếu dự án đầu tư tạo ra dòng tiền thuần đều đặn hàng năm thì thời gian thu
hồi vốn đầu tư được xác định theo công thức:
Thời gian thu hồi

Vốn đầu tư ban đầu

=

VĐT (năm)

Dòng tiền thuần hàng năm của đầu tư

Trường hợp 2: DAĐT tạo ra dòng tiền thuần không ổn định ở các năm. Thời gian thu hồi
vốn đầu tư được xác định theo cách sau:
+ Xác định số năm thu hồi vốn đầu tư bằng cách tính số vốn đầu tư còn phải thu hồi
ở cuối năm lần lượt theo thứ tự
VĐT còn phải thu hồi

=

ở cuối năm t

Số vốn ĐT chưa thu hồi
ở cuối năm (t – 1)

Dòng tiền thuần của
đầu tư năm t

+ Khi số vốn đầu tư còn phải thu hồi ở cuối năm nào đó nhỏ hơn dòng tiền thuần của
đầu tư năm kế tiếp thì cần xác định thì cần xác định thời gian (số tháng) thu hồi nốt VĐT
trong năm kế tiếp.
Số VĐT chưa thu hồi cuối năm (t -1)

Số tháng thu hồi VĐT
=
trong năm t

x

12

Dòng tiền thuần của năm t

Tổng số năm và số tháng thu hồi vốn đầu tư chính là thời gian thu hồi VĐT
của dự án.
Ví dụ 5.1. Hai dự án đầu tư A và B có số vốn đầu tư là 150 triệu đồng (bỏ vốn một
lần). Khoản thu nhập dự kiến (bao gồm khấu hao và lợi nhuận sau thuế) ở các năm trong
tương lai như sau:
Bảng 5-1. Dòng tiền thuần của dự án

Đơn vị tính: triệu đồng
Năm

1

2

3

4

5

Dự án A
Dự án B

60
30

50
50

50
70

40
80

30
80

Bảng 5-2. Thời gian thu hồi vốn của dự án A

Đơn vị tính: triệu đồng

82

Vốn ĐT còn phải thu
hồi cuối năm

Năm

Dòng tiền của DA

0

(150)

(150)

1

60

(90)

2

50

(40)

3

50

4

40

5

30

Thời gian thu hồi
lũy kế (năm)

2

40/50 = 0,96

Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Doanh Nghiệp

phim set cap 3 com

Đề xuất cho bạn